CHƯƠNG 7A: TRƯỜNG NĂNG
LƯỢNG CON NGƯỜI HAY HÀO QUANG CON NGƯỜI
Trường năng lượng con
người là biểu hiệu của năng lượng vũ trụ có liên quan mật thiết với đời sống
con người. Nó có thể được mô tả như là một cơ thể sáng rực bao quanh và thâm
nhập vào thân thể, phát ra các bức xạ đặc thù của riêng nó và thường được gọi
là “hào quang”. Hào quang là cái phần của vũ trụ kết hợp với các đối tượng.
Hào quang con người hay
trường năng lượng con người là cái phần của năng lượng vũ trụ kết hợp với thân
thể.
Các nhà nghiên cứu, dựa
vào những quan sát của mình, đã tạo ra những mô hình lý thuyết phân chia hào
quang thành mấy vầng. Các vầng nầy đôi khi được gọi là cơ thể, chúng thâm nhập
và bao quanh thành từng vầng liên tục.
Mỗi cơ thể kế tiếp gồm
những chất tinh khiết và có “rung động” cao hơn của cơ thể mà nó bao quanh và
thâm nhập.
Tập nhìn thấy hào quang
con người.
Cách dễ nhất để bắt đầu
cảm nhận trường năng lượng con người là tập như sau: Nếu bạn ở trong một nhóm
người, hãy cầm tay nhau thành vòng tròn và nắm tay lại. Hãy để cho năng lượng
trường hào quang của bạn chảy xung quanh vòng tròn. Hãy cảm nhận dòng chảy phập
phồng đó một lát. Nó đang đi theo lối nào? Hãy nhìn xem người đang ở bên cạnh
bạn cảm nhận đó bằng cách nào. Có tương quan nhau không?
Bây giờ, vẫn không thay
đổi vật gì và không động tay, bạn hãy ngắt dòng chảy năng lượng lại. Giữ như
thế một lát (mọi người cùng lúc), rồi để cho năng lượng chảy tiếp. Hãy làm thử
lần nữa. Bạn có cảm thấy được chỗ khác nhau không ?
Bạn thích cái nào hơn?
Lúc nầy hãy cùng với một người bạn nào đó cùng làm tương tự như trên.
Hai người hãy ngồi đối
diện, hay lòng bàn tay áp vào nhau. Để cho năng lượng chảy tự nhiên. Nó đi theo
đường nào? Hãy phát năng lượng ra khỏi lòng bàn tay trái; đoạn để nó đi vào tay
phải. Rồi làm ngược lại. Xong ngắt dòng chảy. Bạn hãy thử cùng một lúc đẩy dòng
chảy ra khỏi cả hai tay. Đoạn hút nó vào cả hai tay một lúc. Các động tác đẩy,
kéo và ngừng là ba biện pháp cơ bản để thao tác năng lượng trong chữa trị. Hãy
thực hành các động tác đó.
Bây giờ bạn hãy buông
tay ra; giữ hai lòng bàn tay xa nhau khoảng 2-5 in; từ từ đưa tay ra ra vào
vào, tăng giảm khoảng cách. Hãy tạo ra một cái gì đó giữa hai bàn tay. Bạn có
cảm nhận được nó không? Nó giống cái gì? Hãy đưa hai tay ra xa nhau hơn, khoảng
8-10 in,rồi từ từ đưa lại gần nhau cho đến khi bạn cảm thấy có một sức ép đẩy
hai tay bạn trở lại làm cho bạn phải ráng thêm một chút mới áp được hai tay vào
nhau.
Lúc nầy, bạn đã áp các
rìa cơ thể năng lượng của mình với nhau. Nếu tay bạn cách nhau 1-1 ¼ in là bạn
đã áp rìa các cơ thể etheric của mình (vầng đầu tiên của hào quang). Nếu tay
bạn cách nhau 3-4 in là bạn đã áp các rìa ngoài cơ thể cảm xúc của bạn (vầng
thứ nhì của hào quang).
Lúc nầy bạn hãy hết sức
thận trọng đưa hai tay vào gần nhau hơn nữa cho đến khi bạn có thể thực sự cảm
thấy rìa nngoài cơ thể cảm xúc của bạn hay trường năng lượng bàn tay phải áp ào
da bàn tay trái. Hãy đưa lòng bàn tay phải gần lòng bàn tay trái thêm khoảng
một in. Hãy cảm nhận hiện tượng ngứa ran trên mu bàn tay trái khi mà rìa trường
năng lượng của bạn áp vào đó. Trường năng lượng của bàn tay phải đã xuyên đúng
qua bàn tay trái của bạn!
Giờ thì bạn lại đưa hai
tay ra xa nhau hơn và giữ khoảng cách chừng 7 in. Hướng ngón trỏ phải vào lòng
bàn tay trái, sao cho đầu ngón cách lòng bàn tay độ ½-1 in. Lúc nầy bạn hãy vẽ
nhiều vòng tròn lên lòng bàn tay. Bạn cảm thấy gì? Nó có làm cho bạn nhột
không? Cái gì vậy ?
Trong ánh sáng mờ mờ của
căn phòng, bạn hãy giữ bàn tay bạn sao cho các đầu ngón tay hướng về từng
người. Giữ hai tay trước mặt mình ở khoảng chừng 2 feet. Đảm bảo có một bức
tường nhẫn màu trắng làm nền phía sau. Hãy để cho mắt thư giãn và dịu dàng nhìn
chăm chú vào khoảng trống giữa các đầu ngón cách xa chừng 1-1 ½ in. Đừng nhìn
vào ánh sáng chói chang. Hãy để cho mắt thư giãn. Bạn thấy gì không? Đưa các
đầu ngón tay lại gần nhau rồi xa nhau hơn nữa. Điều gì xẩy ra ở khoảng cách
giữa các ngón? Bạn thấy gì xung quanh bàn tay? Hãy nhẹ nhàng đưa môt bàn tay
lên phía trên, bàn tay kia xuống duới, sao cho các ngón ở tay nọ hướng về các
ngón ở tay kia. Lúc nầy có xẩy ra điều gì không? 94% số người làm thử bài tập
nầy nhìn thấy một cái gì đó. Tất cả mọi người cảm nhận một cái gì đó. Về những
câu trả lời cho các câu hỏi trên, xin tham khảo phần cuối chương nầy.
Sau khi bạn thực hành
các bài tập nầy và các bài tập ở chương 9 quan sát hào quang của người khác,
bạn có thể bắt đầu nhìn thấy vài vầng đầu tiên như hình 7-1A. Muộn hơn, sau khi
bạn đã quen nhìn thấy các vầng thấp, bạn có thể thực hành các bài tập nhận thức
bằng tri giác cao cấp như mô tả trong các chương 17, 18, 19. Khi đuợc khai mở
hơn con mắt thứ ba (luân xa 6), bạn sẽ bắt đầu nhìn thấy các vầng cao hơn của
hào quang (hình 7-1B).
Đến đây, khi phần lớn
chúng ta đã cảm nhận, nhìn thấy và trải nghiệm các vầng thấp của hào quang, xin
hãy tiếp tục mô tả chúng.
Giải phẩu hào quang
Có nhiều hệ thống mà
người ta đã tạo ra từ những quan sát của họ để xác định trường hào quang.
Tất cả hệ thống nấy đều
chia hào quang thành vầng và xác định vị trí, màu sắc, độ sáng, hình thù, mật
độ, độ lỏng và chức năng. Mỗi hệ thống đều hướng về loại công việc mà cá thể
đang “tiến hành” với hào quang.
Có hai hệ thống giống
với hệ thống của tôi nhất: hệ thống do Jack Schwarz sử dụng, gồm hơn bảy vầng,
và được mô tả trong cuốn cũa ông nhan đề.
Các hệ thống năng lưọng
con người; và hệ thống do Đức Rosalyn Bruyère thuộc Trung Tâm chữa trị bằng ánh
sáng, Glendale, California, sử dụng. Hệ thống nầy gồm bảy vầng và đưọc mô tả
trong cuốn sách của tác giả nhan đề Bánh xe ánh sáng, công trình nghiên cứu về
luân xa .
Bảy vầng của trường hào
quang
Tôi đã quan sát thấy bảy
vầng của hào quang trong thời gian làm việc với cương vị cố vấn và cương vị
thầy chữa.
Lúc đầu, tôi chỉ nhìn
thấy được các vầng thấp, phần lớn đậm đặc và dễ thấy. Càng làm việc lâu, tôi
càng thấy được thêm các vầng khác. Vầng càng cao thì tôi càng phải bành trường
ý thức của mình thêm để cảm nhận nó. Nghĩa là nhằm mục đích nhìn thấy các vầng
cao hơn, như vầng thứ năm, thứ sáu và thứ bảy, tôi phải đi vào trạng thái thiền
định, thường là nhắm mắt. Sau nhiều năm thực hành, thậm chí tôi đã bắt đầu thấy
vượt qua cả vầng thứ bảy, như sẽ được luận bàn ngắn gọn ở cuối chương nầy.
Các quan sát về hào
quang cho tôi thấy một mô hình trường nhị nguyên thú vị. Các vầng khác của
trường có cấu trúc cao, tựa như những làn sóng đứng của các mô hình ánh sáng,
trong khi các vầng ở khoảng giữa hiện ra gồm các chất lỏng có màu chuyển động
liên tục. Những chất lỏng nầy chảy qua một hình thái dựng nên bởi những làn
sóng ánh sáng đứng lung linh. Hướng của dòng chảy phần nào được hình thái ánh
sáng đứng điều khiển, vì chất lỏng chảy dọc theo các vệt ánh sáng đứng.
Bản thân những hình thái
ánh sáng đứng cũng lóng lánh, y như thể chúng gồm có những sợi dây của nhiều
ánh sáng nhỏ xíu, nhấp nháy dồn dập, mỗi cái nhấp nháy theo một tốc độ khác
nhau. Những vệt ánh sáng đứng nầy hiện ra có những vật mang nhỏ xíu chuyển động
dọc theo chúng.
Như vậy, các vầng thứ
nhất, thứ ba, thứ năm và thứ bảy đều có cấu trúc rõ ràng, trong khi các vầng
thứ hai, thứ tư và thứ sáu gồm những chất tựa lỏng không có cấu trúc đặc thù.
Chúng đảm nhiệm hình thái là do chúng chảy qua cấu trúc của các vầng số lẻ và
vì vậy phần nào đảm nhiệm hình thái của các vầng có cấu trúc.
Mỗi vầng kế tiếp thâm
nhập hoàn toàn vào tất cả các vầng bên dưới nó, kể cả thân thể. Vì vậy cơ thể
cảm xúc lan ra quá cơ thể etheric và bao gồm cả cơ thể etheric lẫn thân thể.
Thực tế, mỗi cơ thể không hề là một “vầng", dù rằng đó là cái ta có thể
nhìn thấy. Đúng hơn, nó là dạng bao quát hơn của bản thân chúng ta vốn mang sẵn
bên trong mình những hình thái khác hạn chế hơn.
Từ quan điểm của nhà
khoa học, có thể coi mỗi vầng như một mức của các rung động cao hơn, chiếm lĩnh
cùng khoảng không như những mức rung động phía dưới nó và vượt ra xa hơn. Để
nhìn thấy được từng mức tiếp liền nhau, người quan sát phải tiến lên với ý thức
về mỗi mức tần số mới. Vậy là ta có bảy cơ thể, tất cả chiếm cùng một khoảng
không vào cùng một thời điểm, cái nào cũng vượt ra quá cái kế bên, điều mà
chúng ta không quen trong đời sống “bình thường" hằng ngày. Nhiều người
nhầm lẫn coi hào quang như một củ hành có thể bóc ra thành từng lớp liên tiếp.
Không phải như vậy.
Các vầng có cấu trúc
chứa đựng mọi hình thái mà thân thể có, kể cả nội tạng, mạch máu … và những
hình thái bổ sung mà trong thân thể không có. Có một dòng chảy năng lượng thẳng
đứng rung động bên trên và bên dưới trường hào quang trong tủy sống. Nó vượt quá
ra ngoài thân thể, phía trên đầu và phía dưới xương cụt. Tôi gọi nó là dòng
năng lượng chủ yếu. Có những cuộn xoáy hình nón xoay tròn mệnh danh là các luân
xa trong trường hào quang. Chóp của chúng hướng vào bên trong dòng năng lượng
thẳng đứng chủ yếu và nền khai mở của chúng kéo dài tới rìa từng vầng của
trường hào quang nơi chúng khu trú.
Bảy vầng và bảy luân xa
của trường hào quang
Mỗi vầng hiện ra khác
nhau và có chức năng đặc thù cho mỗi vầng. Mỗi vầng hào quang kết hợp với một
luân xa. Nghĩa là vầng thứ nhất kết hợp với luân xa 1, vầng thứ hai với luân xa
2, và cứ thế.
Đây là những khái niệm
chung sẽ phức tạp hơn khi ta nghiên cứu sâu thêm vào chủ đề này. Còn bây giờ
chỉ liệt kê danh sách để cung cấp cho bạn một cái nhìn chung toàn cục.
Vầng thứ nhất của trường
hào quang và luân xa 1 kết hợp với hoạt động thể chất và cảm xúc-cảm tính thể
chất, sự đau đớn thể chất hay niềm vui. Vầng thứ nhất kết hợp với hoạt động tự
động và tự quản của thân thể.
Vầng thứ hai và luân xa
2 thường kết hợp với dạng cảm xúc của con người. Chúng là những cỗ xe qua đó ta
có đời sống cảm xúc và các cảm nghĩ.
Vầng thứ ba kết hợp với
đời sống tâm thần, với tư duy tuyến tính.
Vầng thứ tư kết hợp với
luân xa tim, là cỗ xe qua đó ta có yêu thương, không chỉ có vợ chồng mà có cả
nhân loại nói chung . Luân xa bốn là luân xa chuyẻn hóa năng lượng yêu thương.
Vầng thứ năm là mức kết
hợp với một ý chí cao cấp có quan hệ chặt chẽ hơn với ý chí siêu phàm. Luân xa
năm kết hợp với sức mạnh của lời nói, sự phát biểu mọi điều vào trong tồn tại,
lắng nghe và chịu trách nhiệm về hành vi của mình. Vầng thứ sáu và luân xa 6
kết hợp với yêu thương thượng giới. Nó là yêu thương vượt ra khỏi giới hạn yêu
thương của con người và ôm lấy mọi cuộc đời. Nó tạo nên sự bày tỏ quan tâm và
ủng hộ việc bảo vệ và dinh dưỡng mọi cuộc đời. Nó giữ cho mọi hình thái cuộc
đời như là những biểu hiện quí giá nhất của Thượng đế.
Vầng thứ bảy và luân xa
7 kết hợp với trí tụê bậc cao, hiểu biết và sự hợp nhất bản chất tâm linh và
thể chất.
Như vậy là có các vị trí
đặc trưng bên trong hệ thống năng lượng con người về cảm giác, xúc cảm, ý nghĩ,
ký ức và những trải nghiệm phi thể chất khác mà ta kể lại cho các thầy thuốc
của mình. Việc hiểu được các triệu chứng thể chất liên quan như thế nào với
những vị trí ấy sẽ giúp ta hiểu bản chất của các bịnh khác nhau cũng như bản
chất sức khỏe và bịnh tật. Thế thì việc nghiên cứu hào quang có thể là nhịp cầu
giữa y học truyền thống và những trăn trở tâm lý học của ta.
Như vậy là có các vị trí
đặc trưng bên trong hệ thống năng lượng con người về cảm giác, xúc cảm, ý nghĩ,
ký ức và những trải nghiệm phi thể chất khác mà ta kể lại cho các thầy thuốc
của mình. Việc hiểu được các triệu chứng thể chất liên quan như thế nào với
những vị trí ấy sẽ giúp ta hiểu bản chất của các bịnh khác nhau cũng như bản
chất sức khỏe và bịnh tật. Thế thì việc nghiên cứu hào quang có thể là nhịp cầu
giữa y học truyền thống và những trăn trở tâm lý học của ta.
Vị trí của bảy luân xa
Vị trí của bảy luân xa
chính trong thân thể được trình bày ở Hình 7-2A tương ứng với bảy đám rối thần
kinh chính của người trong từng vùng thân thể.
BS David Tanseley,
chuyên viên về bức xạ học, trong cuốn sách của mình nhan đề Bức xạ học và các
cơ thể tinh tế của con người, nói rỏ rằng bảy luân xa chính được hình thành tạI
những điểm mà ở đó các vạch ánh sáng thẳng đứng giao nhau 21 lần.
21 luân xa phụ khu trú
tại những điểm mà ở đó các thành phần năng lượng giao nhau 14 lần ( Xem Hình
7-2B ). Chúng khu trú lần lượt như sau: 2 trước tai, 2 trên vú, 1 tạI nơi hai
xương đòn gặp nhau, 2 trong lòng bàn tay, 2 ở gót chân, 2 ở ngay phía sau mắt (
không có trên hình vẽ )
hình 2
Hình 7-2: Vị trí các
luân xa
( Tài liệu chuẩn đoán )
2 liên hệ với cơ quan
sinh dục, 1 cạnh gan, 1 liên kết với dạ dầy (bao tử), 2 liên kết với lách, 2 ở
khoe chân (sau đầu gối), 1 cạnh tuyến ức và 1 cạnh đám rối thái dương. Các luân
xa này có đường kính khoảng 3 in tại nơi cách mặt da 1 in.
Hai luân xa phụ ở lòng
bàn tay rất quan trọng trong chữa trị. Nơi mà các vạch năng lượng giao nhau 7
lần, còn có những cuộn xoáy nhỏ hơn được tạo ra.
Có nhiều trung tâm năng
lượng tí xíu tại những nơi mà các vạch năng lượng giao nhau ít lần hơn.
Tanseley nói rằng những cuộn xoáy tí xíu này có thể rất trùng khớp với các
huyệt châm cứu trong y học Trung Hoa.
Mỗi luân xa chính ở phía
trước cặp đôi với một luân xa tương ứng ở phía sau, đều được coi như tiền diện
mạo và hậu diện mạo của luân xa. Tiền diện mạo liên quan với cảm nhận, hậu diện
mạo liên quan với ý chí, và ba diện mạo trên đầu liên quan với các quá trình
tâm thần của con người, như được trình bày ở Hình 7-3.
Như vậy, luân xa 2 có
các thành phần 2A và 2B, luân xa #3 có 3A và 3B, cứ thế cho tới luân xa thứ 6.
Có thể coi các luân xa 1 và 7 là cặp đôi với nhau nếu ai đó muốn thế, bởi vì
chúng là những điểm tận cùng được khai mở của dòng năng lượng thẳng đứng chủ
yếu chảy lên chảy xuống dọc theo cột sống mà toàn bộ luân xa hướng vào.
Mũi nhọn hay đỉnh của
các luân xa, nơi chúng liên kết với dòng năng lượng chủ yếu, được gọi là rễ
hoặc tâm của luân xa. Bên trong các tâm này là những dấu niêm kiểm soát sự trao
đổi năng lượng giữa các vầng hào quang qua luân xa đó. Nghĩa là mỗi một trong
số bảy luân xa đều có bảy vầng, mỗi vầng tương ứng với một vầng của trường hào
quang. Mỗi luân xa có vẻ khác biệt trên từng vầng đó, như sẽ được nói chi tiết
trong miêu tả của mỗi vầng. Năng lượng nào muốn chảy từ vầng nọ sang vầng kia
qua luân xa phải đi qua các dấu niêm trong rễ luân xa đó. Hình 7-4 cho thấy
trường hào quang với toàn bộ bảy vầng thâm nhập và toàn bộ bảy vầng thâm nhập
của các luân xa.
Có thể nhìn thấy năng
lượng tuôn chảy vào trong toàn bộ những luân xa này từ trường năng lượng vũ trụ
( Hình 7-3 ). Từng cuộn xoáy năng lượng hiện ra đang hút hoặc để cho năng lượng
từ trường năng lượng vũ trụ đi vào. Chúng hiện ra đang hoạt động giống như các
cuộn xoáy chất lỏng mà chúng thường gặp trong nước hay trong không khí, như:
xoáy nước, khí xoáy tụ, cột nước và bão. Chỗ tận cùng của một luân xa bình
thường mở ra vầng hào quang thứ nhất có đường kính khoảng 6 in, cách mặt da
khoảng 1 in.


04:16:00
Posted in:
0 comments:
Đăng nhận xét