Thứ Hai, 17 tháng 4, 2017

Đạo đức nghề nghiệp của người làm thấy

THÁI ĐỘ CỦA NGƯỜI DỰ ĐOÁN
Có người cho rằng "thiên cơ bất khả lậu", hay "người ta có số mệnh què quặt như thế là tại nghiệp báo, nay họ phải trả cái quả do ác nghiệp họ đã gieo trong tiền kiếp, chúng ta đừng dây vào, nếu không phải è cổ ra gánh lấy cái nghiệp ấy cho người ta".... Tôi đã từng nghe ở Chợ lớn có một thanh niên rất giỏi về điạ lý, coi nhà cửa,..., anh ta ít khi nói, có trả tiền cũng không nói; anh chỉ nói khi cảm thấy có cái nợ gì đó với gia chủ, cần phải cảnh báo gia chủ để trả món nợ tinh thần đó, nhưng anh ta cũng không nói ngay, mà phải uống rượu say vào rồi mới nói, vì quỉ thần không bắt tội thằng say dại miệng!
Có người cho là việc dự đoán để giúp người hướng đến cái tốt, tránh xa cái xấu là việc làm công đức rất lớn. Ở đời ai cũng có lúc khó khăn trắc trở, nên cần đến dự đoán. Không nên có thái độ bênh phái này, đả kích phái kia, cũng không nên phân biệt phái này cao thượng, phái kia thấp hèn. Nghiên cứu dịch lý ứng dụng (dự đoán) phải gắn chặt với sự đào sâu về dịch lý; và ngược lại, người làm dịch lý mà không hiểu biết về dự đoán thì cũng chỉ là người lý thuyết suông (10 voi không được chén nước xáo !), vì đừng quên là Kinh Dịch ban đầu chỉ là sách bói.
Ngoài ra, một người thành đạt trong dự đoán, không những phải có tấm lòng chân tình với người khác mà bản thân còn phải tích cực tu dưỡng tốt. Thông thường họ đều có mệnh cục đặc biệt, như có sao thương quan, sao hoa cái, và tính cách thanh cao.
Trong dự đoán, ta sẽ gặp đủ các loại người, các dạng việc. Người dự đoán đầu tiên phải tự ổn định, giữ cho tính cách và tình cảm bình tĩnh, đối xử chính xác với mọi người và mọi sự việc. Không nói ba hoa trước mặt mọi người; không vì quyền lợi riêng mà quên mất nguyên tắc trung thực; cũng không chê bai người khác, cho mình là người là người giỏi nhất ("mèo khen mèo dài đuôi" là tự mãn, mà đã tự mãn thì không thể tiến bộ được nữa).
Tránh làm tiền bất chính trên lưng khách hàng, như khuếch đại những tai hoạ, hù doạ người ta, bắt người ta phải ra tiền nhiều để cúng sao, giải hạn v..v...Nên nhớ là tinh thần thanh sạch, thì dự đoán mới tinh nhạy, còn nếu bị mờ ám vì tiền bạc thì trước sau gì cũng bị thui chột dần.
CÁCH DIỄN ĐẠT CỦA NGƯỜI DỰ ĐOÁN
Về ngôn ngữ và cách diễn đạt thì vừa phải thành thực, vừa phải căn cứ vào từng người, từng trường hợp mà nói cho thích hợp.
Trong dự đoán, ta thường gặp những trường hợp sau đây :
-        Những bậc bố mẹ đến xin đoán khi con họ gặp vận xấu. Người dự đoán vừa phải nói rõ kết quả cụ thể, vừa phải tìm lời lẽ thích hợp sao cho họ tiếp thu được lời nói của mình mà không bị sốc. Có người không chịu đựng nổi sự dự đoán bất ngờ mà ngất ngay tại chỗ, như thế đưa đến tác hại càng lớn hơn. Nên chuẩn bị tâm lý và chỗ lùi cho người đến đoán; diễn đạt một cách uyển chuyển, êm dịu. Ví dụ: nói với người nhà em bé nào đó đang bị lừa, bi trói hay bị đánh là: cháu vẫn bình thường, chỉ có điều tạm thời chưa thể về với gia đình được, có hy vọng trước tháng, ngày nào đó cháu sẽ trở về, nếu quá thời gian đó thì đừng tìm nữa; hay cháu lần này không bị nạn, thì ở nhà cũng khó mà yên ổn..v...v. Tóm lại, căn cứ thông tin hiện ra trong dự đoán mà có cách nói sao cho xác đáng, thích hợp, vừa rõ vừa dễ tiếp thu.
-        Nếu cả hai vợ chồng đều đến xin đoán thì nên dự đoán riêng cho từng người, vì có những vấn đề riêng tư của từng người mà dù vợ hay chồng họ cũng không nên biết đến, nếu không sẽ đưa đến những mâu thuẫn bất lợi. Có những cặp vợ chồng khi đến xin đoán đã biết rõ họ sẽ ly hôn, hoặc sự khắc của một bên nào đó lớn hơn bên kia, họ chỉ muốn biết (hay để tự an ủi ?) là quyết định của họ không sai với mệnh, thì dù qua dự đoán ta cũng thấy thế, ta cũng chỉ nên nói riêng và khuyên họ nên xử lý mâu thuẫn một cách êm đẹp, ổn thoả.
-        Đối với người muốn làm giàu bằng đồng tiền không chính đáng thì không thể giúp. Vì giúp họ cũng đồng thời là làm hại người khác. Hơn nữa họ có dành được đồng tiền bất chính thì cũng không thể giữ nổi mà còn chuốc lấy tai hoạ, ví dụ loại người đánh bạc là không được giúp đỡ. Vừa phải nói cho họ biết mình không giúp được, vừa phải khuyên ngăn họ, khuyên họ đầu tư tiền vào chỗ chính đáng.
-        Đối với người lai lịch không quen biết, nếu việc muốn đoán là có ý đồ không tốt hoặc không thể nói cho ai biết, thì kiên quyết từ chối để khỏi trở thành kẻ “nối giáo cho giặc”.
Tóm lại là vừa phải khách quan đối với thông tin, vừa phải cẩn trọng lường trước hậu quả của sự việc. Đối với con cái phải khuyên hiếu đễ với cha mẹ, với cấp dưới phải khuyên trung thành với cấp trên, với chủ, đó là nghĩa vụ và bổn phận người dự đoán.
LUÔN LUÔN TRAU DỒI KIẾN THỨC VÀ KỸ NĂNG
Dự đoán học là môn học để dự đoán tương lai, tính toán, đoán định về xu thế phát triển hoặc kết cục trong tương lai đối với sự vật, sự việc. Có dự đoán ngắn hạn và trung, dài hạn.
Bể học mênh mông, không bao giờ bạn nên tự mãn. Kẻ nào tự mãn thì không tiến bộ được nữa. Phải luôn luôn học hỏi, qua sách vở và qua trao đổi với những người đã có nghiên cứu, thực hành những phương pháp mình đã dùng, qua sự ghi chú những điều đã dự đoán trước đây cho người này, việc nọ; Có khi bạn đã dự đoán sai, vì bản lãnh hồi đó còn non kém, hay vì đã nhắm sai mục tiêu, ví dụ trong phương pháp bói 6 hào bát quái mà bạn đã chọn sai dụng thần; hoặc trong khoa Tử Bình bạn đã sai lầm trong khi xác định Thân vượng hay Thân nhược, vì thế định dụng thần sai, nên kết luận các vận trình xấu thành tốt, hay ngược lại ..., hoặc bạn cho một kết luận chưa tổng hợp được hết những ngoại lệ.... Có sao đâu, biết được cái sai của mình là đã tiến bộ rồi .
Ngoài những khoa mình chuyên môn, cũng nên tham khảo các khoa khác .
Khi dự đoán theo Tứ trụ (hay bất cứ khoa nào khác), nếu biết kết hợp thêm những phương pháp khác, hay cả biết xem chỉ tay, tướng mặt, tướng xương ... thì kết quả sẽ chính xác gấp bội.
Nên nhớ rằng, ngoài bầu trời này còn có bầu trời khác, ngoài người giỏi này còn có người khác giỏi hơn. Một người không thể nắm bắt hết, tính hết được mọi việc trên đời, vì vậy nên khiêm tốn nhưng tự tin, và biết vận dụng điểm mạnh sở trường của mình, khắc phục nhược điểm, không ngừng học tập để luôn luôn tiến bộ.

Theo Trúc Lâm Tử

Thứ Tư, 12 tháng 4, 2017

Tất cả chúng ta đều phải “trở về nhà”

“Tính tâm linh, đối với tôi, đơn giản chỉ có nghĩa là phát hiện chính mình”
..Nếu bạn không nhìn tôi với sự trống rỗng trong bạn thì câu trả lời của tôi cho bạn là vô ích. Nó sẽ chỉ là sự phản ánh chính bạn thôi. Bạn soi tôi để thấy chính bạn thôi, chứ không thấy tôi. Nếu tôi trống rỗng, bạn trống rỗng thì đó sẽ là hai tấm gương soi vào nhau và chúng ta sẽ thấy nhau...


Khoảng những năm 1995 -1998, những người quan tâm và tìm kiếm về tâm linh bắt đầu đưa cho nhau đọc những bản copy không rõ ai dịch, không rõ từ đâu, nhưng những lời lẽ trong cuốn sách đầy mê lực và có sức thức tỉnh lòng người vô cùng mạnh mẽ. Cái tên Osho được biết đến có lẽ từ đó, hay từ trước đó một chút nữa ở Việt Nam. Rất ít người khi đó biết được rằng con người vĩ đại và đầy phi thường chỉ mới qua đời năm 1990. Ông gần như sống cùng thời đại với chúng ta, tiếc rằng, chỉ gần đây, khi hàng chục cuốn sách của Osho được dịch và giới thiệu ở Việt Nam thì chúng ta cũng mới biết nhiều đến ông với những tư tưởng vĩ đại và đặc sắc.
Osho tên thật là Rajneesh Chandra, sinh năm 1931 tại một ngôi làng nhỏ ở miền trung Ấn Độ. Ông được coi là một trong những đại diện tư tưởng xuất sắc nhất mọi thời đại. Có những đánh giá nói rằng Đức Phật đã trở lại Trái đất sau 25 thế kỷ qua ông, rằng ông là một kẻ “nổi loạn” và là kẻ “nguy hiểm nhất” chỉ sau Jesus.
Nhân loại vừa yêu ông, vừa sợ ông. Ông giống như ánh hào quang làm hoảng sợ và chói mắt những kẻ nô dịch người khác bằng mọi tư tưởng và luận thuyết cứng nhắc, giáo điều, nhưng bản thân lại đầy ý thức nô lệ. Mục đích của các thông điệp của ông là nhằm đánh thức nhân loại đang trong cơn mê của những sự nhầm lẫn căn bản nhất về ý nghĩa của sự tồn tại của con người. Sự xuất hiện của Osho và tư tưởng của ông giống như một dự báo về một nhân loại mới, về một thời đại mới mà ở đó, tất yếu con người phải “trở về”, phải tìm thấy sự hợp nhất với hiện hữu, với chân lý. Osho dường như đã xuất hiện như một người thầy dẫn đường. 
Osho có nét của một nhà truyền giáo, nhưng bản thân ông không theo một tôn giáo nào. Khi còn nhỏ, 7 năm đầu đời, ông sống với ông bà ngoại và không hề đến một trường lớp nào. Nhưng chính trong một môi trường “vô giáo dục” như thế – điều được ông coi là một phúc lành, một tư tưởng vĩ đại nhất đã chạm đến tâm hồn còn như một trang giấy mới trắng tinh của cậu bé Rajneesh Chandra: “Tôi đảnh lễ dưới chân những ai đã biết chính mình…” qua bà ngoại của cậu, một phụ nữ chân quê, thất học, nhưng đầy sáng suốt. 
Toàn bộ tư tưởng của Osho đều được xoay quanh điều quan trọng nhất này: Biết chính mình. Ông nói: “Tính tâm linh, đối với tôi, đơn giản chỉ có nghĩa là phát hiện chính mình”. 
Osho dành cả đời mình để chỉ làm một việc: Giúp mọi người, và về sau là giúp “những kẻ tìm kiếm” phát hiện chính mình. Đây cũng chính là hạt nhân trong tư tưởng của ông. “Biết chính mình”, hay biết “tôi là ai” là câu hỏi của bản thân mỗi người và họ phải tự đi con đường của mình để trả lời câu hỏi này. Câu hỏi đơn giản, nhưng quan trọng nhất này cũng là câu hỏi khó nhất bởi vì nó chạm tới bản thể. Trả lời câu hỏi này đòi hỏi cả một hành trình dài đằng đẵng, nhiều kiếp, bởi vì đơn giản là qua quá nhiều triệu kiếp, con người đã đi sai đường. Thay vì đi vào trung tâm, nó ngày càng đi ra ngoại vi. Một trong những sai lầm lớn nhất của con người, theo Osho, là nhầm lẫn về thể xác và tâm trí. “Bạn không phải là tâm trí bạn, bạn cũng không phải thân thể bạn”, ông nói. Vì thế, ông hướng dẫn đầu tiên bạn phải học nhận ra cơ thể bạn không phải bạn, rồi sau đó, mới đến tâm trí. Thể xác và tâm trí sẽ mất đi, nhưng bạn thì vĩnh cửu. Vì vậy, cái vĩnh cửu này, hay cái bản thể, hay chân lý phải được tìm ra, hay nói khác đi, "bạn phải trở về nhà”. Một khi trở về, bạn nhận ra mình là một phần của cái toàn thể, bạn là một với hiện hữu, bạn đã tìm thấy Thượng đế. 
Triết học của Osho không phải là để nghiền ngẫm mà để thực hành. Để “trở về”, thiền định là phương tiện chính, là then chốt. Ông nói:” Thiền định không là gì khác ngoài sự rút lui của mọi loại rào chắn – những tư tưởng, cảm xúc, tình cảm – những cái tạo ra bức tường giữa bạn và hiện hữu. Cái khoảnh khắc chúng rơi rụng đi, bạn đột nhiên tìm thấy chính mình hòa điệu với cái toàn bộ. Không chỉ hòa điệu, bạn thực sự là một với cái toàn bộ”. Osho đưa ra 112 phương pháp thiền, trong đó thiền động được coi là một phương pháp hết sức độc đáo. Nguyên lý của thiền động đơn giản là bạn phải tập trung vận động điên cuồng trong một thời gian ngắn để tống hết tất cả những rác rưởi dồn ứ trong bạn, những lo âu, phiền muộn, âm mưu, hằn thù, oán giận, căng thẳng … ra ngoài, rồi sau đó bạn mới có thể tĩnh lặng.
Nơi chứa chấp tất cả những rác rưởi, tạo thành lớp lớp rào cản, như những đám mây dày đặc che kín bầu trời này, chính là tâm trí con người. Ở đây, bạn phải học để nhận ra tâm trí bạn chẳng phải cái gì khác mà chính là cái bản ngã, được làm nên bởi những rác rưởi, dục vọng, ham muốn của con người. Cả những cái gọi là “tri thức”, hãy tự hỏi xem, có cái gì từ bạn mà ra không, hay nó là từ ngoài đi vào? Nếu bạn có tri thức, bạn sẽ chỉ là học giả, nhưng bạn sẽ mãi mãi không là một người thông minh và trí tuệ, bởi vì sự sáng suốt, trí tuệ thật sự là cái đi từ bên trong ra. Chỉ khi nào những đám mây dày đặc của những cái không phải của bạn, không phải là bạn, tan đi thì mặt trời mới hé rạng, giọt nước đã hòa vào đại dương, bạn mới tìm thấy mình; hay chỉ khi bạn từ chối chính bạn, khi bạn biến đi, thì hiện hữu lao về phía bạn, đi vào bạn - theo diễn đạt của Osho.
Khi đám mây tan đi, bạn mới thấy được sự thật. Một ví dụ để hiểu cái nhìn của ông: “Ông là ai?” – câu hỏi của một nhà báo. Trả lời: Nếu bạn không nhìn tôi với sự trống rỗng trong bạn thì câu trả lời của tôi cho bạn là vô ích. Nó sẽ chỉ là sự phản ánh chính bạn thôi. Bạn soi tôi để thấy chính bạn thôi, chứ không thấy tôi. Nếu tôi trống rỗng, bạn trống rỗng thì đó sẽ là hai tấm gương soi vào nhau và chúng ta sẽ thấy nhau.
Từ nguyên lý nhất thể xem con nguời là một phần hợp nhất với hiện hữu, Osho đã xem xét và thuyết giảng về những vấn đề căn bản liên quan tới tâm linh như sự sống, cái chết, sự bất tử, tự do, tình yêu, tình dục… và rất nhiều vấn đề xã hội khác, từ đó ông hướng dẫn các giá trị sống đích thực cho con người. Mặc dù tiếp thu rất nhiều giá trị tư tưởng, văn hóa và tôn giáo Ấn Độ, Osho không theo một tôn giáo nào.
Ông không chia sẻ các quan niệm về sự tồn tại của Thượng đế, hay Đấng sáng tạo. Ông dùng các từ ngữ “Thượng đế”, “tôn giáo”… chỉ để tải các tư tưởng của chính ông. Một trong những điểm ông phê phán mạnh mẽ nhất ở các tôn giáo là con người thường bị xem như kẻ tội lỗi và vì thế phải được dẫn dắt để gột sạch tội lỗi trong kiếp sống này. Ông phê phán gay gắt việc nhiều tôn giáo coi cuộc sống trên trái đất chỉ là nơi chuẩn bị cho một thế giới khác sau cái chết. Tinh thần của Osho hoàn toàn ngược lại.
Ông coi cuộc sống là một trải nghiệm quý giá, một cơ hội, một lễ hội, con người phải hân hoan, vui sống. Khi bạn hết lòng với giây phút hiện tại, quá khứ và tương lai không còn chỗ trong tâm trí bạn. Nó không có khả năng dựng rào cản trong tâm trí bạn nữa. Cuộc sống là ở đây, giây phút này. Những lớp học thiền định của Osho duy nhất là nơi học viên được vui chơi, nhảy múa, ca hát, tràn đầy âm nhạc, vũ điệu, hoan hỉ… trước khi đi vào tĩnh lặng. Tìm ra chính mình, con người cũng sẽ cảm nhận được Thượng đế trong bản thân mình, hay nói theo Osho, đó là tính tôn giáo, tính Thượng đế. Với Osho, không có Thượng đế, chỉ có tính Thượng đế, không có tôn giáo, chỉ có tính tôn giáo.
Một trong những vấn đề căn bản Osho bàn tới – đó là tự do. Tự do trong tư tưởng của ông về cơ bản là tự do thoát khỏi cái “tôi”. Cái “tôi” hay bản ngã chính là cái tạo ra xiềng xích. Một khi thoát khỏi cái “tôi”, con người mới thực sự có tự do, và nhờ đó tràn đầy tình yêu. Nên, xem xét tự do với Osho cũng đồng thời là xem xét tình yêu đích thực là gì. Theo Osho, tình yêu không phải là cái đến ở bên ngoài, không phải là cái ta đòi hỏi được và xin được. Tình yêu là kho báu, là suối nguồn từ bên trong của mỗi con người. Nhưng kho báu này bị che giâú bởi cái “tôi”, bởi bản ngã của con người. 
Khốn thay, chúng ta luôn nghĩ rằng chúng ta biết về tình yêu. Một khi nghĩ rằng mình biết rồi, ta không đi tìm nó nữa. Nên Osho dạy rằng trước tiên phải hiểu là ta chẳng biết gì về tình yêu cả. (Có ai trong chúng ta đủ ý dũng cảm để nói rằng tôi chẳng biết gì về tình yêu?) Chỉ những người đã vượt qua khỏi sự cần thiết phải đòi hỏi tình yêu mới bắt đầu đi trên con đường tình yêu đích thực – con đường cho đi tình yêu. “Tình yêu nghĩa là cho đi, nó không hề biết gì về đòi hỏi”, rằng "Tình yêu mà đòi hỏi thì không phải là tình yêu”, “Tình yêu chỉ tìm đến cánh cửa mà sự thèm muốn đã biến mất”.
Tình yêu là âm nhạc nội tại con người của bạn, là sự nở hoa bên trong. Nhưng, sự nở hoa sẽ không thể diễn ra bởi cái “tôi”. Chừng nào trong mỗi con người còn tràn đầy tiếng ồn của cái “tôi” thì chừng đó tình yêu còn không thể hiển lộ. Ánh sáng và bóng tối không thể tồn tại cùng nhau. Theo cùng cách ấy, tình yêu và bản ngã không thể tồn tại cùng nhau. Vì bên trong ta không có tình yêu nên cái “tôi” vẫn liên tục vang lên. Nên kẻ nào có cái ngã toàn bộ, tình yêu sẽ chết hoàn toàn trong hắn. Bạn cũng có thể nói bản ngã cũng yêu, nhưng tình yêu xuất phát từ bản ngã là tình yêu giả tạo, nó sẽ sớm trở thành xiềng xích – bộ mặt thật của nó. Nó là mưu mẹo về sự sở hữu.
Một lần nữa, Osho nhất quán với tư tưởng hạt nhân của ông về “trở thành chính mình” khi ông tuyên bố: “Chẳng ai có thể tìm kiếm được cái thiêng liêng siêu phàm bởi vì hắn không có khả năng như thế. Nhưng đến khi có người nào đó trở nên sẵn sàng biến mất, đã trở nên sẵn sàng chẳng là gì cả, sẵn sàng biến thành cái không, thế thì cái thiêng liêng, siêu phàm chắc chắn sẽ tìm đến hắn. Chỉ có cái thiêng liêng là có thể tìm kiếm con người, con người không bao giờ có thể tìm kiếm cái thiêng liêng ấy, bởi ngay khi tìm kiếm thì bản ngã đã có mặt…”. Chỉ “Cái ngày mà hắn không tồn tại, ngày đó cánh cửa che dấu tình yêu sẽ mở ra cho hắn”. Vậy thì cái bản ngã, cái “tôi” ấy là cái gì, nó ở đâu, và nó là ai.

Theo Osho, “tên” (như Hùng, Hiền chẳng hạn) và “tôi” – đó chẳng qua là những tiện ích xã hội để phân biệt bạn với người khác, nó chỉ mang chức năng nhãn hiệu, là hai mặt của đồng tiền. Tên để thấy được từ bên ngoài, và "tôi’’ thấy được từ bên trong. Nhưng nhầm lẫn đã dẫn đến ảo tưởng về giá trị của tên và “tôi”. Bao lâu cái ảo tưởng này còn tồn tại thì không gian dành cho tình yêu vẫn không được mở ra. Như vậy, suy cho cùng, tình yêu cũng là một hình thức của ý thức về bản thể, về nhất thể, về bản tính vũ trụ, bản tính Thượng đế của con người. Tình yêu chỉ có toàn bộ khi con người phát hiện ra chính mình.
Một trong những quan niệm đặc sắc của Osho là về tình dục. Đó là lĩnh vực hầu hết mọi tôn giáo, mọi xã hội đều né tránh. Chính sự né tránh này đã dẫn đến sự kìm nén tình dục và đây là nguồn gốc dẫn đến những nhận thức méo mó, sai lệch về nó. Vượt qua những sự méo mó này, Osho đã xem xét vấn đề tình dục một cách toàn diện, sâu sắc và mới mẻ. Theo ông, vì đây là nguồn sinh lực tự nhiên của con người nên nếu bị đè nén, như dòng sông, nó tất sẽ bị lệch dòng. Tình dục là nấc thang thấp nhất của quá trình tìm ra chính mình. Bạn có thể cảm nhận khoảng khắc phi ngã, phi thời gian, khi đạt tới đỉnh điểm của khoái cảm. Nếu bạn ý thức và quan sát được giây phút này, bạn sẽ thoát khỏi tình dục. 
Ba cấp độ của tình dục, theo Osho, là tình dục gắn với thể xác, tình dục gắn với tình yêu và tình dục gắn với thiền. Tình dục gắn với thể xác là khi con người bất hạnh và chạy trốn – nó tìm đến tình dục. Tình dục và tình yêu là mức độ cao hơn của sự hòa hợp hai tâm hồn. Ở đây, ngay cả trong hôn nhân, Osho quan niệm rằng nếu một người sử dụng người kia, ham muốn thân xác mà không có tình yêu thì cũng chẳng khác gì mại dâm. Tình dục ở cấp độ ba là tình dục và thiền – một cánh cửa hé mở, một tia chớp lóe lên khi đột nhiên bản ngã biến mất, thời gian biến mất. Càng thỏa mãn bao nhiêu, con người ở cấp độ này càng sớm rời bỏ tình dục bấy nhiêu để đi đến một nấc thang cao hơn của hành trình tâm linh. 
Theo cách này, Osho dự đoán nhân loại sẽ phát triển đến giai đoạn con người “đủ” tình dục, nó sẽ từ bỏ và sẽ dẫn tới tình trạng độc thân. Nhân loại mới sẽ dần dần không ra đời theo quan hệ tình dục nam nữ nữa, mà theo một cách khác. Osho bị phê phán và chỉ trích dữ dội từ phía các nhà lãnh đạo tôn giáo, chính trị, văn hóa… vì những luận điểm của ông về tình dục, nhưng thế kỷ 21 đang hé lộ rằng những dự đoán của ông đang thành hiện thực. 
Tuy đưa ra rất nhiều thông điệp và lời chỉ dẫn, nhưng Osho thực ra không viết sách. Toàn bộ mấy trăm tác phẩm của ông là tập hợp của hàng nghìn các bài nói chuyện đã nói ở khắp nơi trên thế giới và tại Ấn Độ, trong đó mỗi câu ông nói, mỗi dòng được ghi lại, đều chứa đựng thông tin. Hùng biện, giản dị nhưng đầy cuốn hút và thông tin dày đặc – đó là phong cách Osho. Bạn phải suy nghĩ trên mỗi dòng, mỗi trang khi đọc ông. Lý do không viết gì của Osho là ông không muốn mọi người bám lấy, hay lụy vào những điều ông nói. Ông thuyết giảng, nhưng ông nói ông không có học thuyết nào, triết học nào, tôn giáo nào… Mỗi người là duy nhất và họ phải trải qua hành trình của chính mình. Cũng như Đức Phật, ông chỉ trăng thôi, mọi người phải hướng đến mặt trăng mà quên ngón tay chỉ trăng của ông. 
Con đường truyền thông cho loại “tôn giáo không có tôn giáo” theo cách nói của ông là một con đường gập ghềnh. Ông từng học triết, trở thành giáo sư đại học, rồi trở thành một đạo sư lang thang. Ông đã đi từ chứng ngộ cá nhân đến truyền đạt cho những đám đông hàng chục nghìn người, rồi cuối cùng chỉ dừng lại ở những nhóm nhỏ của những người mà ông nhận ra họ đang thực sự tìm kiếm. Ông phản đối việc thành lập một tổ chức, một tôn giáo sau lưng ông. Ông từng được chào đón, nhưng cũng từng bị xua đuổi ở nhiều quốc gia, kể cả Ấn Độ, vì ông dám đặt những câu hỏi có sức công phá đến tận gốc rễ và lật đổ những tà thuyết có sức sống hàng nghìn năm, những truyền thống văn hóa hủ bại, những sự dối trá, những sự nhầm lẫn ghê gớm của loài người…
Ông thách thức những nền tảng vững bền được bảo vệ bởi các thể chế cùng vô số các nhà tư tưởng và tâm linh qua hàng nghìn năm, và vì thế, nhiều kẻ muốn giết ông như người ta đã từng đóng đinh Jesus, đầu độc Socrate (nhà triết học Hi Lạp cổ đại)… Ngay cả với Đức Phật, ông cũng cương quyết từ chối “phải nằm nghiêng bên phải, tay kê đầu” –thiền trong khi ngủ đêm - và cầm bình bát khất thực. Cả cuộc đời của Osho là một hành trình liên tục thực hành và thay đổi cách làm, xuất phát từ một thời đại thay đổi nhanh chóng và con người đã đạt tới tiện nghi cao về vật chất, khoa học phát triển mạnh mẽ… nhưng nhân loại ngày càng bế tắc hơn trong lĩnh vực tinh thần. 
Osho từ biệt cõi đời nhẹ nhàng, từ chối cấp cứu. Cái chết của ông được cho là do nguyên nhân bị đầu độc bằng thallium, một chất hủy hoại hệ miễn dịch, trong thời gian ông bị bắt vô cớ và bị chuyển qua 6 nhà tù liên tiếp chỉ trong vòng 12 ngày tại Mỹ. 
Điều kỳ diệu là toàn bộ cuộc đời và sự nghiệp đồ sộ của con người vĩ đại này giúp chúng ta không phải học hỏi về ông, mà là học hỏi về chính mình. 
http://www.tuanvietnam.net/tat-ca-chung-ta-deu-phai-tro-ve-nha-
Nguyễn Điệp Hoa



Giới thiệu về Osho và các tác phẩm của Osho


Thế kỉ 20 đã chứng kiến những tiến bộ vượt bực của khoa học và công nghệ làm nền tảng thúc đẩy sự phát triển mới của nhân loại: toàn thế giới đi vào nền kinh tế thông tin và tri thức, xã hội chuyển biến thành xã hội tri thức. Cả trái đất nay đã trở thành như một cái làng, một việc xảy ra ở bất kì ngõ ngách nào trên thế giới thì lập tức toàn thể thế giới đều được biết tới ngay. Nhưng cũng thế kỉ 20 này còn chứng kiến một phát triển vượt bực nữa của tâm thức con người: việc xuất hiện nhiều bậc thầy tâm linh như Gurdjieff, Nisargadatta, J. Krishnamurti, Osho… với những chỉ dẫn phong phú về sự phát triển của con người mới và nhân loại mới.
Một trong các bậc thầy tâm linh được nhắc tới nhiều nhất và gây ra nhiều tranh luận nhất vào cuối thế kỉ 20 này chính là Osho. Nhưng điều mà Osho đã giảng giải trong suốt ba mươi năm, thực sự cũng chính là những điều mà Phật, Mahavira, Lão Tử, Trang Tử, Jesus,… những bậc chứng ngộ của quá khứ khác đã nói. Con người hiện đại, tuy có tầm mức trí tuệ và suy diễn cao hơn ngày xưa, lại quá bận rộn với những vấn đề cuộc sống nên không còn thời gian đi vào tìm hiểu các kinh sách cổ với lối diễn giải cổ. Osho chính là người đưa tinh hoa của sự phát triển tâm thức trong các tôn giáo cổ trở lại với thực tế sống động đời thường ngày nay cho mọi người.
Về từ nguyên, osho là một từ cổ Nhật Bản, theo nghĩa tiếng Nhật Bản là “Hoà Thượng”, như chúng ta vẫn dùng từ này khi chỉ các nhà sư Phật giáo, mang ngụ ý “Người Hoà hợp với Thượng giới” hay nói cách khác là hoà hợp với toàn thể sự tồn tại. Một nghĩa khác nữa của từ osho này là “tính đại dương” như đã được Willaim James nêu lên. Cái tên Osho đã được bậc thầy tâm linh Bhagwan Shree Raijneesh (1931-1990) người Ấn Độ, chọn làm tên hiệu chính thức cho mình và đã trở thành nổi tiếng trên toàn thế giới.
Tâm linh theo Osho không phải là hệ thống đẳng cấp các lực lượng tinh thần chi phối thế giới vật chất. Trái lại, theo Osho, tâm linh đích thực chính là sự phát triển tâm thức của mỗi người, để sống một cách hoàn toàn tỉnh táo, có ý thức trong mọi suy nghĩ, hành động, tư tưởng, tình cảm của mình. Sự trưởng thành của con người được đánh dấu bằng việc thoát khỏi rất nhiều tầng đồng nhất tâm thức với thân thể mình, với tâm trí mình, với các tục lệ, lề thói xã hội, các ý thức hệ tôn giáo, các mối quan hệ với thế giới xung quanh. Sự phát triển cao nhất của con người, chứng ngộ, không gì khác hơn việc hiểu ra điều đơn giản là không có cái tôi tách biệt để vun vén cho riêng mình, mà chỉ có một cái toàn thể đang vận hành và chúng ta tham gia cùng sự sáng tạo vĩ đại đó để làm cho mọi thứ tốt đẹp nhất có thể được.
Sự phát triển tâm thức hiện đại hoàn toàn không mang nghĩa như việc tu tập của các tu sĩ thời xưa, chỉ quay vào bên trong mình để phát triển nội tâm mà không đóng góp gì về vật chất cho xã hội. Theo Osho, con người mới phải là con người sống trong thế giới này, đóng góp tích cực cho sự phát triển của xã hội, nhưng đồng thời vẫn quan sát mọi suy nghĩ và hành động của mình để không bị lệ thuộc cả vào những lực ngầm xui khiến bên trong mình lẫn những lực thúc đẩy mù quáng bên ngoài. Con người mới phải là con người có cách nhìn toàn diện, thấu hiểu qui luật phát triển của sự tồn tại và hành động theo qui luật đó mà không bị chi phối bởi những ham muốn, những thúc giục của thói ích kỉ cá nhân. Con người mới phải là con người đã nhìn rõ chân tướng mọi ham muốn của mình và thoát khỏi sự chi phối của nó, để có thể trở thành cây sáo trúc hổng mà tạo hoá thổi qua những điệu nhạc du dương.
Sự phát triển tâm thức là nhiệm vụ của riêng từng người, không ai có thể làm thay người khác được, nhưng có những hướng dẫn, có những chia sẻ của những người đã đạt tới dành cho những ai đang khao khát đi tìm cách sống, ý nghĩa của cuộc sống. Và những hướng dẫn, chia sẻ đó đã được Osho thuyết giảng trong suốt 30 năm, đều đặn mỗi ngày Osho nói chuyện với các bạn bè và người tìm kiếm trong hai tiềng đồng hồ. Những bài nói đó đã được ghi âm và ghi hình trong quãng 1800 cuộn băng từ, và được dỡ ra, được ghi lại thành sách. Cho tới nay, đã có hơn 600 đầu sách được chuyển lại như vậy từ các thiết bị đa phương tiện. Osho không phải là nhà văn, Osho không viết mà đó toàn là những bài nói, với các đối tượng cụ thể, hoàn cảnh cụ thể và vấn đề cụ thể.
Osho đã nói và bình luận về gần như toàn bộ tất cả các tôn giáo chính trên thế giới. Nhiều kinh sách kinh điển, thường rất khó hiểu với người đọc, lại trở nên cực kì dễ hiểu qua giảng giải của Osho vì Osho đã dùng ngôn ngữ đời thường, kinh nghiệm của cuộc sống hiện đại để minh hoạ cho những vấn đề có tầm sâu lắng nhất. Từng bài nói của Osho đều chứa đựng nhiều tầng tri thức và kiến giải, và tuỳ khả năng và trình độ của người đọc, mỗi lần đọc lại sẽ lại thấy ra những vấn đề mới mà lần đọc trước mình chưa thấy ra. Từng bài nói đều tựa như những cầu vồng trọn vẹn đưa người đọc từ những bước sơ cấp nhất đi lên tột đỉnh chứng ngộ. Và không chỉ giảng giải, Osho còn cung cấp và giới thiệu cho mọi người những phương pháp thực hành ngay lập tức với chính tâm trí và con người mình, để đưa họ từ chỗ họ đang đấy lên tới đỉnh cao nhất. Và phương pháp không có gì khác hơn và quan sát, tỉnh táo và chứng kiến mọi việc xảy ra, cả từ bên trong lẫn bên ngoài.
Osho nhấn mạnh mỗi người phải sống có ý thức và phát triển tâm thức mình qua việc tham gia vào cuộc sống vật chất hàng ngày đang diễn ra. Osho không chủ trương xây dựng tôn giáo có tổ chức mới dựa theo lời giảng của mình. Osho phê phán tất cả các hình thức tổ chức (tôn giáo, xã hội…), khi xem xét chúng trong chiều phát triển của tâm thức con người. Mọi tổ chức đều có những qui định kỉ luật ràng buộc con người, và tổ chức phải là như vậy thì mới trở thành sức mạnh vật chất. Nhưng sự phát triển sáng tạo của tâm thức con người bao giờ cũng vượt qua mọi giới hạn kỉ luật của tổ chức. Trong phát triển tâm thức, tới một trình độ nào đó, người ta phải có đủ dũng cảm để tự mình đi một mình bằng chính hiểu biết của mình, không phải dựa vào bất kì ai khác hay bất kì tổ chức nào.
Những điều Osho đã nói ra là những giúp đỡ vô cùng quí báu cho những người tìm kiếm, cho những người đang trên con đường phát triển tâm linh. Tuy nhiên thực sự đây là những lời giảng cao siêu, rất có ý nghĩa và không phải là tất cả mọi người đều có thể hiểu hay đồng ý với quan điểm của Osho ngay lập tức. Người ta thường hiểu mọi vấn đề qua lăng kính hiểu biết hiện tại của chính mình, vì vậy việc hiểu sai hay ngộ nhận rất thường xảy ra xung quanh những bậc thầy tâm linh. Điều này là tất yếu, và bản thân Osho cũng đã phải chịu rất nhiều chỉ trích, phê phán, thậm chí cấm đoán, trù dập và đầu độc bởi sự đố kị thông thường, bởi việc mọi người vẫn hay coi hiểu biết của mình là duy nhất đúng. Sẽ không có gì đáng ngạc nhiên nếu vẫn có những lời chê bai, công kích Osho theo nhiều góc nhìn khác nhau. Nhưng với thời gian và với sự khao khát tìm kiếm chân lí, người tìm kiếm sẽ tìm thấy những điều đích thực trong lời của Osho.
Nhưng để tìm được những hạt kim cương trong lời của Osho, người đọc cần phải mang một tâm trạng vô tư, không e ngại, không thiên kiến, không vồ vập, không dễ dãi. Có thể đọc như dòng sông chảy từ mạch nguồn trên thượng du, băng qua đồng bằng, rồi đổ oà ra đại dương. Cũng có thể nhảy bổ ngay vào những chủ đề mình thấy quan tâm nhất, rồi sau mới chuyển sang các vấn đề khác, không cần trật tự nào. Hãy đi theo tiếng gọi của niềm yêu thích bên trong mình, hãy để cho nguồn mạch băng chảy, đừng đắp đê, cũng đừng khai thông… Điều cơ bản là khi đọc xong rồi đừng bám vào lời nói, hãy đi sâu vào cái vô lời ẩn giữa các dòng chữ, hãy bắt được cái thần, cái ý được ngụ trong đó. Cái còn đọng lại cho người đọc sau khi đã quên tất cả những cái khác, dù đồng ý hay không, miễn làm vỡ ra được vô minh để chiếu sáng vào đời sống của từng cá nhân, thì dùng nó mà ứng xử với đời mình và đồng loại.
Để làm cho những lời của Osho đi gần hơn nữa với con người hiện đại, một số nhà xuất bản tại Mĩ đã làm công việc biên tập, tuyển chọn trích rút những lời nói của Osho trong rất nhiều bài nói theo từng chủ đề một, cung cấp cho bạn đọc cách nhìn nhận mới theo những vấn đề cụ thể, các chủ đề cụ thể của cuộc sống. Những cuốn sách này đương nhiên không cho độc giả cái nhìn thấu suốt từ sơ cấp tới đỉnh cao nhất như bài nói trọn vẹn của Osho, nhưng nó lại phù hợp với trình độ hiện tại của nhiều người. Các quan niệm về tình yêu, về thiền, về sáng tạo, dũng cảm, trưởng thành, nhận biết, thân thể và tâm trí, theo một góc độ nào đó có thể được xem xét độc lập với các khía cạnh khác và cũng nên được giới thiệu như những bước đi đầu tiên vào việc tìm hiểu chính bản thân chúng ta. Những cuốn sách đó được tập trung lại thành loạt sách “Sự sáng suốt về cách sống mới” như: Trưởng thành – trách nhiệm là chính mình, Tủ thuốc của linh hồn, Sáng tạo: Khơi nguồn sức mạnh bên trong, Dũng cảm: Vui sống hiểm nguy…
Các bạn hãy xem list và link của hơn 80 quyển Sách Osho Việt ngữ dưới đây:


Nguồn: thienosho.com

Thứ Bảy, 8 tháng 4, 2017

Osho – Tình yêu – Tự do – Một mình Mục lục

Giáo huấn của tôi là hướng theo Tình yêu. Tôi có thể vứt bỏ từ Thượng đế rất dễ dàng - chẳng có vấn đề gì nhưng tôi không thể vứt bỏ được từ Tình yêu. Nếu tôi phải chọn giữa từ Tình yêu và Thượng đế, tôi sẽ chọn tình yêu; Tôi sẽ quên tất cả về Thượng đế, bởi vì những người biết tới Tình yêu nhất định biết tới Thượng đế. Nhưng không có điều ngược lại. Những người nghĩ về Thượng đế và triết lí hoá về Thượng đế chẳng bao giờ biết về Tình yêu cả - và sẽ chẳng bao giờ biết về Thượng đế nữa.
Trích “Tình yêu – Tự do – Một mình” - Osho


Osho – Tình yêu – Tự do – Một mình
Lời giới thiệu
"Trong Symposium của Plato, Socrates nói:
Người công phu điều huyền diệu của yêu sẽ trong tiếp xúc không chỉ với cái phản xạ, mà với bản thân chân lí. Để biết ân huệ này của bản tính con người, người ta không thể tìm đâu ra sự giúp đỡ tốt hơn là tình yêu.
Tôi đã từng cả đời bình luận về yêu, theo cả nghìn cách khác nhau, nhưng thông điệp là một. Chỉ một điều nền tảng cần phải được ghi nhớ: Nó không phải là tình yêu mà bạn vẫn nghĩ là tình yêu đâu. Cả Socrates không nói về tình yêu đó mà tôi cũng không nói về nó. Yêu bạn biết không là gì ngoài thôi thúc sinh học; nó phụ thuộc vào hệ thống hoá chất của bạn và hoóc môn của bạn. Nó có thể bị thay đổi rất dễ dàng - một thay đổi nhỏ trong hệ thống hoá chất của bạn và tình yêu mà bạn nghĩ là "chân lí tối thượng" sẽ đơn giản biến mất. Bạn đã gọi thèm khát là "tình yêu." Phân biệt này đáng được ghi nhớ.
Socrates nói, "Người công phu điều huyền diệu của yêu..." Thèm khát chẳng có điều huyền diệu nào. Nó đơn giản là trò chơi sinh học; mọi con vật, mọi con chim, mọi cái cây đều biết về nó. Chắc chắn tình yêu có điều huyền diệu sẽ hoàn toàn khác với tình yêu mà bạn vẫn thường quen thuộc.
Người công phu điều huyền diệu của yêu sẽ trong tiếp xúc không chỉ với phản xạ, mà với bản thân chân lí.
Tình yêu này, cái có thể trở thành tiếp xúc với bản thân chân lí, nảy sinh chỉ từ tâm thức của bạn - không từ thân thể bạn, mà từ bản thể cốt lõi bên trong nhất. Thèm khát nảy sinh từ thân thể bạn, tình yêu nảy sinh từ tâm thức bạn. Nhưng mọi người không biết tâm thức của mình, và hiểu lầm cứ tiếp diễn mãi - thèm khát thân thể của họ được lấy làm tình yêu.
Rất ít người trên thế giới này biết được tới yêu. Đó là những người đã trở nên im lặng thế, an bình thế... và từ im lặng và an bình đó họ đi vào tiếp xúc với bản thể bên trong nhất của mình, linh hồn họ. Một khi bạn trong tiếp xúc với linh hồn mình, tình yêu của bạn trở thành không chỉ là thân thuộc mà đơn giản là cái bóng của bạn. Dù bạn đi đâu, dù bạn đi tới bất kì ai, bạn cũng đều yêu.
Ngay bây giờ, điều bạn gọi là yêu mới chỉ hướng tới ai đó, hạn chế vào ai đó. Và tình yêu lại không phải là hiện tượng có thể bị giới hạn. Bạn có thể có nó trong bàn tay để mở, nhưng bạn không thể có nó trong bàn tay nắm của mình được. Khoảnh khắc tay bạn nắm lại, chúng thành trống rỗng. Khoảnh khắc tay bạn mở ra, cái toàn thể của sự tồn tại lại có sẵn cho bạn.
Socrates đúng: Người biết tình yêu cũng biết chân lí, bởi vì chúng chỉ là hai cái tên của một kinh nghiệm. Và nếu bạn còn chưa biết tới chân lí, nhớ rằng bạn vẫn còn chưa biết tới tình yêu đâu.


Để biết ân huệ này của bản tính con người, người ta không thể tìm đâu ra sự giúp đỡ tốt hơn là tình yêu."

Mục lục
Phần I: Tình yêu
Chương 1: Uỷ mị
Chương 2: Thực và giả - Bước đầu tiên
Chương 3: Đức hạnh của ích kỉ
Chương 4: Gắn bó với cái không
Phần II: Từ thân thuộc tới việc quan hệ
Chương 5: Tuần trăng mật không bao giờ chấm dứt
Chương 6: Từ thèm khát tới yêu tới yêu thương
Chương 7: Để có khoảng cách
Chương 8: Công án về thân thuộc
Phần III: Tự do
Chương 9: Tabula Rasa
Chương 10: Sự nô lệ nền tảng
Chương 11: Đề phòng giáo hoàng
Chương 12: Có cuộc sống sau dục không?
Chương 13: Điều đó xảy ra ở một làng
Phần IV: Một mình
Chương 14: Một mình là bản tính của bạn
Chương 15: Người lạ với bản thân mình
Chương 16: Một mình và được chọn
Chương 17: Sư tử và cừu
Báo trước Hai bà và một sư
Lời bạt: Nắm lấy nghịch lí
Hết

Osho – Tình yêu – Tự do – Một mình Lời bạt: Nắm lấy nghịch lí

Osho – Tình yêu – Tự do – Một mình
Lời bạt: Nắm lấy nghịch lí



Sống một mình là đẹp, sống trong tình yêu, sống với mọi người cũng đẹp. Và chúng bù lẫn cho nhau, không mâu thuẫn. Khi bạn tận hưởng người khác, cứ tận hưởng, và tận hưởng tới sự tràn đầy nhất; không có nhu cầu bận tâm về sự một mình. Và khi bạn chán với người khác, thế thì hãy đi vào trong sự một mình và tận hưởng tới sự tràn đầy nhất.
Đừng cố chọn lựa - nếu bạn cố chọn lựa bạn sẽ gặp khó khăn. Mọi chọn lựa đều sẽ tạo ra phân chia trong bạn, một loại chia chẻ trong bạn. Sao lại chọn? Khi bạn có thể có cả hai, sao lại có một thôi?
Toàn thể giáo huấn của tôi bao gồm hai từ, "thiền" và "yêu." Thiền sao cho bạn có thể cảm thấy im lặng mênh mông, và yêu sao cho cuộc sống của bạn có thể trở thành bài ca, điệu vũ, lễ hội. Bạn sẽ phải đi giữa hai điều này, và nếu bạn có thể đi dễ dàng, nếu bạn có thể đi mà không cần nỗ lực nào, thì bạn đã học được điều lớn lao nhất trong cuộc sống. Trong su ốt nhiều thời đại nó đã từng là những vấn đề lớn nhất: thiền và yêu, một mình và mối quan hệ, dục và im lặng. Chỉ cái tên là khác; vấn đề là một. Và trong suốt nhiều thời đại con người đã đau khổ nhiều bởi vì vấn đề này đã không được hiểu đúng - mọi người đã chọn lựa.
Những người đã chọn mối quan hệ được gọi là phàm nhân, còn những người đã chọn sự một mình được gọi là sư, người thế giới khác. Nhưng cả hai đều khổ, bởi vì họ vẫn còn một nửa, và một nửa là khổ. Là toàn thể mới là lành mạnh, hạnh phúc; là toàn thể mới là hoàn hảo. Vẫn còn một nửa là khổ bởi vì nửa bên kia cứ phá hoại, nửa bên kia cứ chuẩn bị báo thù. Nửa bên kia không bao giờ có thể bị phá huỷ bởi vì nó là nửa bên kia của bạn! Nó là phần bản chất của bạn; nó không phải là cái gì đó ngẫu nhiên mà bạn có thể vứt bỏ đi được.
Điều đó cũng giống như ngọn núi quyết định rằng "ta sẽ không có thung lũng nào bao quanh ta cả." Bây giờ, không có thung lũng, núi không thể tồn tại được. Thung lũng là một phần của bản thể núi; núi không thể tồn tại mà thiếu thung lũng; chúng là phần bù cho nhau. Nếu núi chọn hiện hữu mà không có thung lũng, thì sẽ không có núi nào cả. Nếu thung lũng chọn hiện hữu mà không có núi, thì sẽ không có thung lũng. Hay, bạn sẽ trở thành kẻ giả vờ - núi sẽ giả vờ rằng không có thung lũng. Nhưng thung lũng có đó - bạn có thể che giấu thung lũng, bạn có thể dìm nó sâu vào trong vô thức của mình, nhưng nó vẫn còn lại, nó vẫn cứ kiên gan, nó vẫn cứ tồn tại, không có cách nào phá huỷ được nó. Thực tế, núi non/thung lũng là một thứ, tình yêu và thiền cũng vậy, mối quan hệ và sự một mình cũng vậy. Núi của sự một mình chỉ vươn lên trong thung lũng của các quan hệ.
Thực tế, bạn có thể tận hưởng sự một mình chỉ nếu bạn có thể tận hưởng mối quan hệ. Chính mối quan hệ mới tạo ra nhu cầu về sự một mình, nó là nhịp điệu. Khi bạn đã đi vào mối quan hệ sâu với ai đó, một nhu cầu lớn lao nảy sinh để được một mình. Bạn bắt đầu cảm thấy hết hơi, cạn kiệt, mệt mỏi - mệt mỏi một cách vui sướng, mệt mỏi một cách hạnh phúc, nhưng mỗi kích động đều làm cạn kiệt. Quan hệ thì cực kì hay, nhưng bây giờ bạn muốn đi vào trong sự một mình để cho bạn lại có thể thu về bản thân mình, để cho bạn lại có thể trở thành tuôn trào, để cho bạn lại có thể trở thành được bắt rễ vào bản thể riêng của mình.
Trong yêu bạn đi vào bản thể của người khác, bạn mất tiếp xúc với bản thân mình. Bạn trở thành bị nhấn chìm, bị say sưa. Bây giờ bạn sẽ cần tìm lại bản thân mình lần nữa. Nhưng khi bạn một mình, bạn lại tạo ra nhu cầu về yêu. Chẳng mấy chốc bạn sẽ tràn đầy tới mức bạn muốn chia sẻ, bạn sẽ tuôn trào tới mức bạn muốn có ai đó để bạn đổ bản thân mình vào, có người để đem cho bản thân mình. Yêu n ảy sinh từ sự một mình. Sự một mình làm cho bạn quá đầy, yêu đón nhận món quà của bạn. Yêu làm trống rỗng bạn để cho bạn có thể lại trở thành đầy. Bất kì khi nào bạn được làm trống rỗng bởi yêu, sự một mình có đó để nuôi dưỡng bạn, để tích hợp bạn. Và đây là nhịp điệu.
Coi hai điều này là tách biệt đã từng là sự ngu xuẩn nguy hiểm nhất mà con người đã chịu đựng. Vài người trở thành phàm nhân - họ bị hết hơi, họ bị cạn liệt, trống rỗng. Họ không có không gian nào của riêng mình. Họ không biết mình là ai; họ chưa bao giờ bắt gặp bản thân mình. Họ sống với người khác, họ sống vì người khác. Họ là một phần của đám đông; họ không phải là cá nhân. Và nhớ lấy: Cuộc sống tình yêu của họ sẽ không có sự hoàn thành - nó sẽ một nửa, và không một nửa nào đã bao giờ có thể là sự hoàn thành. Chỉ cái toàn thể mới được hoàn thành.
Và thế rồi có các sư đã chọn nửa kia. Họ sống trong tu viện. Từ sư (monk) nghĩa là người sống một mình; từ này bắt nguồn từ cùng gốc như monogamy (một vợ một chồng) monotony (đơn điệu), monastery (tu viện), monopoly (độc quyền). Nó có nghĩa là một, một mình.
Sư là người đã chọn sự một mình - nhưng chẳng bao lâu người đó quá đầy, chín muồi, và không còn biết chỗ nào để rót bản thân mình ra. Người đó rót bản thân mình vào đâu? Người đó không thể cho phép tình yêu, người đó không thể cho phép quan hệ; người đó không thể đi và gặp và hoà lẫn với mọi người. Bây giờ năng lượng của người đó bắt đầu bị lên men. Bất kì năng lượng nào dừng tuôn chảy cũng đều trở thành đắng. Ngay cả nước cam lồ, khi bị tù đọng, cũng trở thành độc - và ngược lại; ngay cả chất độc, khi tuôn chảy, cũng trở thành cam lồ.
Tuôn chảy biết cam lồ là gì và trở thành tù đọng là biết chất độc là gì. Chất độc và cam lồ không phải là hai thứ mà là hai trạng thái của cùng một năng lượng. Việc tuôn chảy là cam lồ; bị đông cứng nó là chất độc. Bất kì khi nào năng lượng nào đó có đó, và không có lối ra cho nó, nó đều bị chua ra. Nó trở thành đắng, nó trở thành buồn, nó trở thành xấu. Thay vì cho bạn cái toàn thể và lành mạnh nó làm cho bạn ốm yếu. Tất cả các sư đều ốm yếu; tất cả các sư đều nhất định bệnh hoạn.
Âm nhạc vĩ đại là sự tổng hợp giữa âm thanh và im lặng. Và sự tổng hợp càng vĩ đại, âm nhạc đi càng sâu. Âm thanh tạo ra im lặng, và im lặng tạo ra sự cảm thụ để tiếp nhận âm thanh, và cứ như thế mãi. Âm thanh tạo ra nhiều tình yêu cho âm nhạc, nhiều khả năng để trở nên im lặng. Lắng nghe âm nhạc vĩ đại bạn bao giờ cũng cảm thấy tính cầu nguyện, cái gì đó toàn thể. Cái gì đó tích hợp trong bạn. Bạn trở thành được định tâm, được bắt rễ. Đất và trời găp gỡ, chúng không còn tách rời. Thân thể và linh hồn gặp gỡ và hội nhập, chúng mất đi các định nghĩa của chúng. Và đó là khoảnh khắc lớn lao, khoảnh khắc của sự hợp nhất huyền bí. Đó là trận chiến cổ đại, và ngu xuẩn, cực kì ngu xuẩn, cho nên xin hãy nhận biết:
Đừng tạo ra trận chiến nào giữ dục và im lặng. Nếu bạn tạo ra trận chiến, dục của bạn sẽ xấu xí, ốm yếu, và im lặng của bạn sẽ đờ đẫn và chết. Để dục và im lặng gặp gỡ và hội nhập. Thực tế những khoảnh khắc lớn lao nhất của im lặng là những khoảnh khắc được đi theo sau bởi tình yêu, tình yêu lớn lao, các đỉnh của tình yêu. Và đỉnh của tình yêu bao giờ cũng được tiếp theo sau là những khoảnh khắc lớn lao của im lặng và một mình. Thiền dẫn vào tình yêu. Tình yêu dẫn vào thiền. Chúng là bạn tình. Không thể nào phân chia được chúng. Không phải là vấn đề tạo ra sự tổng hợp - không thể nào phân chia được chúng. Đó là vấn đề hiểu biết, thấy rằng chúng là không thể phân chia được. Sự tổng hợp đã có đó rồi, nó đã là hoàn cảnh rồi. Chúng là một! Hai mặt của cùng một đồng tiền. Bạn không cần tổng hợp chúng, chúng chưa bao giờ tồn tại tách rời. Và con người đã cố gắng, đã cố gắng vất vả, nhưng bao giờ cũng thất bại.
Tính tôn giáo v ẫn chưa trở thành tâm quyển của trái đất; tính tôn giáo vẫn còn chưa trở thành chính lực sống, thuỷ triều trên thế giới. Và lí do là gì? - sự phân chia này. Hoặc bạn phải là người thế giới này hoặc bạn phải là người thế giới khác, chọn đi! Và khoảnh khắc bạn chọn, bạn bỏ lỡ cái gì đó. Dù bạn chọn bất kì cái gì, bạn cũng đang là người mất. Tôi nói đừng chọn. Tôi nói, sống cả hai trong tính cùng nhau của chúng. Tất nhiên cần nghệ thuật để sống cả hai. Chọn và bị gắn bó với một điều là đơn giản. Bất kì kẻ ngốc nào cũng có thể làm được điều đó - thực tế, chỉ kẻ ngốc mới làm điều đó. Vài kẻ ngốc đã chọn thế giới này và vài kẻ ngốc khác đã chọn thế giới khác. Con người của thông minh sẽ thích cả hai. Và đó là điều tính chất sannyas tất cả là gì. Bạn có thể có cái bánh và ăn nó nữa - đó là thông minh.
Tỉnh táo, nhận biết, thông minh. Thấy nhịp độ và đi cùng nhịp độ, không chọn lựa nào. Vẫn còn nhận biết vô chọn lựa. Thấy cả hai cực đoan. Trên bề mặt chúng có vẻ đối lập, mâu thuẫn, nhưng chúng lại không thế. Sâu bên dưới có phần bù lại. Nó là cùng con lắc đi sang trái rồi sang phải. Đừng cố định nó vào bên trái hay bên phải; nếu bạn cố định nó, bạn đã phá huỷ toàn thể chiếc đồng hồ. Và đó là điều đã được làm từ trước tới nay. Chấp nhận cuộc sống trong mọi chiều của nó.
Và tôi hiểu vấn đề này: vấn đề là đơn giản, đã biết rõ. Vấn đề là ở chỗ khi bạn bắt đầu lập quan hệ, bạn không biết làm sao ở một mình - điều đó đơn giản chỉ là không thông minh. Không phải là mối quan hệ là sai, nó đơn giản chỉ ra rằng bạn vẫn còn chưa đủ thông minh, cho nên mối quan hệ trở thành quá nhiều và bạn không tìm thấy không gian nào để ở một mình và bạn cảm thấy cạn kiệt và mệt mỏi. Thế rồi một ngày nào đó bạn quyết định mối quan hệ là xấu, nó vô nghĩa: "Mình muốn trở thành sư. Mình sẽ đi lên hang động Himalaya và sống ở đó một mình." Và bạn sẽ mơ những giấc mơ lớn lao về việc ở một mình. Nó sẽ hay làm sao - không ai xâm lấn vào tự do của bạn, không ai cố gắng thao túng bạn; bạn không phải nghĩ về người khác chút nào.
Jean-Paul Sartre nói, "Người khác là địa ngục." Điều đó đơn giản chỉ ra rằng ông ấy vẫn còn chưa có khả năng hiểu những tính bù nhau của tình yêu và thiền. "Người khác là địa ngục" - vâng, người khác trở thành địa ngục nếu bạn không biết cách đôi khi ở một mình. Trong tất cả các loại mối quan hệ, người khác đều trở thành địa ngục. Nó là chán ngắt, mệt mỏi, cạn kiệt, tẻ nhạt. Người khác mất đi mọi cái đẹp, bởi vì người khác đã trở nên được biết. Các bạn đã quá quen thuộc nhau; bây giờ không có ngạc nhiên gì hơn. Bạn đã biết lãnh thổ đó hoàn hảo rồi; bạn đã du hành trong lãnh thổ đó lâu tới mức chẳng có gì ngạc nhiên thêm nữa. Bạn đơn giản chán ngán với toàn thể mọi .
Nhưng bạn đã trở nên gắn bó, và người kia đã trở nên gắn gó với bạn. Người kia cũng trong khổ, bởi vì bạn là địa ngục của người đó, cũng như người đó là địa ngục của bạn. Cả hai đang tạo ra địa ngục cho nhau và cả hai đang níu bám nhau, sợ mất bởi vì... có cái gì cũng còn tốt hơn không cái gì. Ít nhất cái gì đó có đó để mà giữ, và người ta có thể vẫn hi vọng rằng ngày mai mọi sự sẽ tốt hơn. Hôm nay họ không tốt hơn, nhưng ngày mai mọi sự sẽ tốt hơn. Người ta có thể vẫn hi vọng và người ta cứ hi vọng. Người ta sống trong thất vọng và cứ hi vọng.
Thế rồi chẳng chóng thì chầy người ta bắt đầu cảm thấy tốt hơn cả là ở một mình. Nhưng nếu bạn đi vào sự một mình, trong vài ngày điều đó sẽ cực kì hay, cứ dường như nó là hay với người kia - trong vài ngày thôi. Cũng như có tuần trăng mật trong mối quan hệ, có tuần trăng mật trong thiền nữa. Trong vài ngày bạn sẽ cảm thấy tự do thế, chỉ là chính mình, không ai có đó mà đòi hỏi, không ai có đó để trông đợi điều gì ở bạn. Nếu bạn muốn dậy sớm buổi sáng, bạn có thể dậy sớm; nếu bạn không muốn dậy sớm buổi sáng, bạn có thể cứ ngủ. Nếu bạn muốn làm điều gì đó, được; nếu bạn không muốn làm gì, chẳng có ai ép buộc bạn cả. Trong vài ngày bạn sẽ cảm thấy hạnh phúc mênh mông thế - nhưng chỉ vài ngày thôi. Chẳng mấy chốc bạn sẽ trở nên mệt mỏi vì nó. Bạn sẽ tràn ngập và chẳng có ai đón nhận tình yêu của bạn. Bạn sẽ chín muồi, và năng lượng cần được chia sẻ. Bạn sẽ trở nên nặng nề, bạn sẽ trở nên nặng gánh với năng lượng của riêng mình. Bạn sẽ thích ai đó đón chào năng lượng của bạn, đón nhận năng lượng của bạn. Bạn sẽ thích được làm nhẹ gánh. Bây giờ sự một mình sẽ có vẻ không giống sự một mình mà là đơn độc. Bây giờ sẽ có thay đổi - tuần trăng mật kết thúc rồi. Một mình sẽ bắt đầu biến thành đơn độc. Bạn sẽ có ham muốn lớn để tìm người khác. Trong giấc mơ của bạn người khác sẽ bắt đầu xuất hiện.
Cứ đi và hỏi các sư họ mơ gì. Họ mơ chỉ về đàn bà; họ không thể mơ được cái gì khác. Họ mơ về ai đó có thể làm nhẹ gánh cho họ. Hỏi các ni - họ chỉ mơ về đàn ông. Và điều này có thể trở thành bệnh hoạn. Bạn phải nhận biết về lịch sử Ki tô giáo. Ni và sư bắt đầu mơ ngay cả với mắt mở. Giấc mơ trở thành thực tại bản chất tới mức bạn chẳng cần phải đợi tới đêm nữa. Ngay cả ban ngày, ni đang ngồi đó và cô ấy thấy quỉ tới, và quỉ đang cố gắng làm tình với cô ấy. Bạn sẽ ngạc nhiên: Nhiều lần điều đã xảy ra trong thời Trung cổ là nhiều ni bị thiêu sống ở cọc vì họ thú nhận rằng họ đã làm tình với quỉ. Bản thân họ thú nhận, và cũng không chỉ họ đã làm tình với quỉ, họ thậm chí còn mang thai với quỉ - mang thai giả, chỉ khí nóng trong bụng, nhưng bụng họ ngày một to lên. Việc mang thai tâm lí. Và họ đã mô tả quỉ chi tiết thế - quỉ đó là bịa đặt riêng của họ. Và con quỉ đó theo họ cả ngày lẫn đêm... Và đó cũng là trường hợp với đối với các sư.
Việc chọn lựa ở một mình đã tạo ra một nhân loại rất ốm yếu. Và những người sống trong thế giới này không hạnh phúc, và các sư không hạnh phúc - chẳng ai dường như hạnh phúc cả. Toàn thế giới là khổ thường xuyên và bạn có thể chọn - từ khổ này sang khổ khác, bạn có thể chọn khổ của thế giới này hay khổ của thế giới kia, nhưng khổ tất cả đều như nhau. Trong vài ngày bạn sẽ cảm thấy tốt. Tôi đem tới cho bạn một thông điệp mới. Thông điệp này là không chọn lựa - vẫn còn tỉnh táo vô chọn lựa trong cuộc sống của bạn, và trở nên thông minh thay vì thay đổi hoàn cảnh. Thay đổi tâm lí của bạn, trở nên thông minh hơn. Thông minh hơn là cần có để phúc lạc! Và thế rồi bạn có thể có sự một mình cùng với mối quan hệ.
Làm cho người đàn bà hay đàn ông của bạn cũng tỉnh táo theo nhịp điệu này. Mọi người nên được dạy rằng không ai có thể yêu hai mươi bốn tiếng một ngày; thời kì nghỉ ngơi là cần thiết. Và không ai có yêu theo mệnh lệnh. Yêu là hiện tượng tự phát. Bất kì khi nào nó xảy ra, thì nó xảy ra, và bất kì khi nào nó không xảy ra thì nó không xảy ra. Chẳng cái gì có thể được làm về nó. Nếu bạn làm bất kì cái gì, bạn sẽ tạo ra hiện tượng giả, việc diễn kịch.
Những người yêu thực, những người yêu thông minh, sẽ làm cho nhau tỉnh táo với hiện tượng này: "Khi anh muốn một mình điều đó không có nghĩa là anh bác bỏ em. Thực tế, chính bởi vì tình yêu của em mà em đã làm cho anh thành có thể ở một mình." Và nếu người đàn bà của bạn muốn được bỏ lại một mình trong một đêm, trong vài ngày, bạn sẽ không cảm thấy bị tổn thương. Bạn sẽ không nói rằng bạn đã bị bác bỏ, rằng tình yêu của bạn đã không được đón nhận và đón chào. Bạn sẽ kính trọng quyết định của cô ấy được ở một mình vài ngày. Thực tế, bạn sẽ hạnh phúc! Tình yêu của bạn nhiều tới mức cô ấy cảm thấy trống rỗng; bây giờ cô ấy cần nghỉ ngơi để trở lại tràn đầy. Đây là thông minh.
Thông thường, bạn cho rằng mình bị bác bỏ. Bạn đi tới người đàn bà của mình và nếu cô ấy không sẵn lòng ở cùng bạn, hay không rất yêu mến bạn, bạn cảm thấy bị bác bỏ lớn lao. Bản ngã bạn bị tổn thương. Bản ngã này không phải là điều rất thông minh đâu - mọi bản ngã đều ngu ngốc. Thông minh không biết tới bản ngã; thông minh đơn giản thấy hiện tượng, cố gắng hiểu tại sao người đàn bà này lại không muốn ở với bạn. Không phải là cô ấy bác bỏ bạn - bạn biết cô ấy đã yêu bạn nhiều thế, cô ấy yêu bạn nhiều thế, nhưng đây là khoảnh khắc cô ấy muốn một mình. Và nếu bạn yêu cô ấy, bạn sẽ để cho cô ấy một mình; bạn sẽ khônhg hành hạ cô ấy, bạn sẽ không buộc cô ấy phải làm tình với bạn. Và nếu người đàn ông muốn một mình, người đàn bà sẽ không nghĩ, "Anh ấy không còn quan tâm tới mình nữa, có thể anh ấy đã trở nên quan tâm tới người đàn bà khác nào đó." Và người đàn bà thông minh sẽ để cho người đàn ông một mình để anh ta có thể thu lại bản thể anh ta, để cho anh ta lại có năng lượng mà chia sẻ. Và nhịp điệu này giống như ngày và đêm; mùa hè và mùa đông; nó cứ thay đổi.
Nếu hai người thực sự kính trọng - và tình yêu bao giờ cũng kính trọng, nó tôn kính người kia, nó là trạng thái rất tôn thờ, cầu nguyện - thế thì dần dần bạn sẽ hiểu lẫn nhau ngày một nhiều hơn và bạn sẽ trở nên nhận biết về nhịp điệu của người kia và nhịp điệu của bạn. Và chẳng mấy chốc bạn sẽ thấy rằng từ tình yêu, từ kính trọng, nhịp điệu của các bạn ngày một lại gần hơn. Khi bạn cảm thấy yêu, cô ấy cảm thấy yêu, điều này lắng đọng. Điều này lắng đọng theo cách riêng của nó, nó là sự đồng bộ.
Bạn đã bao giờ quan sát chưa? Nếu bạn bắt gặp hai người yêu nhau thực, bạn sẽ thấy nhiều điều tương tự trong họ. Những người yêu nhau thực trở thành dường như họ là anh em và chị em. Bạn sẽ ngạc nhiên - ngay cả anh em và chị em cũng không giống nhau đến thế. Cách diễn đạt của họ, cách họ đi, cách họ nói, cử chỉ của họ - hai người yêu nhau trở thành giống nhau và vậy mà vẫn khác nhau thế. Điều này bắt đầu xảy ra một cách tự nhiên. Chỉ ở cùng nhau, dần dần họ trở thành hoà hợp với nhau. Những người yêu nhau thực không cần nói gì với nhau - người kia lập tức hiểu, hiểu một cách trực giác.
Nếu người đàn bà buồn, cô ấy có thể không nói điều đó như vậy, nhưng người đàn ông hiểu và để cô ấy một mình. Nếu người đàn ông buồn, người đàn bà hiểu và để anh ta một mình - tìm cái cớ nào đó để anh ta một mình. Những người ngu làm điều đối lập lại. Họ chưa bao giờ để cho nhau một mình - họ thường xuyên ở với nhau, làm mệt mỏi và chán ngán lẫn nhau, chưa bao giờ để bất kì không gian nào cho nhau hiện hữu.
Tình yêu cho tự do và tình yêu giúp đỡ người kia là chính bản thân mình. Tình yêu là hiện tượng rất nghịch lí. Theo cách này, nó làm cho bạn thành một linh hồn trong hai thân thể; theo cách khác, nó cho bạn tính cá nhân, tính duy nhất. Nó giúp bạn vứt bỏ cái ta bé nhỏ nhưng nó cũng giúp bạn đạt tới cái ta tối cao. Thế thì không có vấn đề gì: Tình yêu và thiền là hai cánh, và chúng cân bằng lẫn nhau. Và giữa hai điều này bạn trưởng thành, giữa hai điều này bạn trở thành cái toàn thể.

Kết thúc quyển “Tình yêu – Tự do – Một mình” - Quay về Mục lục

Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More

 
Design by Đông Phương Lý Số | Bloggerized by dongphuonglyso.com - Broadcast Real Information | Đông Phương Lý Số